Viêm gan siêu vi C, hiểu sao cho đúng?

20/04/2011

SGTT.VN - Thời gian gần đây, nhiều thông tin truyền thông trái ngược đã dấy lên không ít nghi ngại trong công chúng về bệnh viêm gan siêu vi C.

Có hai thái cực trái chiều, hoặc thờ ơ, cho rằng những nguy cơ và biến chứng của bệnh là trò thổi phồng để bán thuốc từ giới công nghiệp dược; hoặc hoảng hốt quá độ, chạy vạy tìm cách điều trị ngay bằng mọi giá, kể cả bằng những phương pháp không chính thống và chưa được nghiên cứu thấu đáo.

Bài viết này nhằm làm sáng tỏ những quan điểm mới nhất, được đúc kết và khuyến nghị trực tiếp từ các chuyên gia hàng đầu, sau hội nghị của hiệp hội nghiên cứu các bệnh gan của châu Âu (European Association for the Study of Liver – EASL, vừa diễn ra tại Berlin, tháng 4.2011). Không cần nhiều giải thích và bình luận, vì tự những con số đã nói lên tất cả.

Bệnh có nguy hiểm không?

Bệnh suất của viêm gan siêu vi C trên thế giới vào khoảng 130 – 210 triệu người (3% dân số thế giới). 50 – 90% trường hợp khởi bệnh dưới dạng viêm gan siêu vi C cấp thì không có triệu chứng. Sau khi nhiễm siêu vi C, cũng 50 – 90% trường hợp không thể tự khỏi bệnh mà chuyển sang viêm gan siêu vi C mạn tính. Tuỳ theo các yếu tố nguy cơ khác đi kèm, sẽ có 10 – 40% người bệnh viêm gan siêu vi C mạn tính chuyển thành xơ gan. Tỷ lệ tử vong do xơ gan từ viêm gan siêu vi C là 4% mỗi năm. Tỷ lệ chuyển sang ung thư gan sau khi bị xơ gan do viêm gan siêu vi C mạn là 1 – 5% mỗi năm.

Có lây lan qua đường tình dục?

Đường lây lan chủ yếu của siêu vi C vẫn là đường máu (tiêm chích, châm cứu, cắt lể, xâm mình, các thủ thuật y khoa không vô trùng…) Lây lan qua đường tình dục rất thấp. Do đó, EASL chỉ khuyến cáo sử dụng bao cao su cho những người mang siêu vi có nhiều bạn tình (promicous) hay cho giới đồng tính luyến ái nam.

Tỷ lệ lây truyền trực tiếp từ mẹ sang con khá thấp (1 – 6%). Do đó, khi người mẹ mắc bệnh, EASL không khuyến cáo mổ bắt con để ngừa lây bệnh. Thay vào đó, nên kiểm tra xét nghiệm tìm phân tử HCV RNA trong máu em bé một tháng sau khi sinh để phát hiện khả năng nhiễm bệnh nếu có. Tuy chưa có thuốc ngừa bệnh viêm gan siêu vi C nhưng những người mắc bệnh được khuyên nên chích ngừa viêm gan siêu vi A và B, để tránh những tổn thương thêm cho gan.

“Những người chưa điều trị, hay tái phát sau khi điều trị, cần được theo dõi mỗi sáu tháng để tầm soát khả năng ung thư gan hay xơ gan”.

Khi nào nên điều trị tức khắc?

Tính khẩn cấp của viêm gan siêu vi C phụ thuộc vào mức độ xơ hoá gan. Mức độ này được phân loại theo thang điểm từ F1 – F4 (nhẹ đến nặng). Tỷ lệ khỏi bệnh với điều trị hiện tại là 50 – 80%, tuỳ theo genotype (kiểu gen) của siêu vi. EASL khuyến nghị như sau:

Tất cả bệnh nhân viêm gan siêu vi C chưa được điều trị trước đó mà tình trạng gan chưa mất bù trừ: đều nên được xem xét để điều trị.

Nếu xơ hoá nặng (F3 – F4): điều trị ngay tức khắc (“promptly”).

Nếu xơ hoá trung bình (F2): khuyến cáo mạnh mẽ nên điều trị (“strongly considered”).

Nếu bệnh nhẹ hơn (F1): chỉ định điều trị phụ thuộc theo từng cá nhân (“individual”).

Lưu ý, những từ trong ngoặc kép là nguyên văn trong khuyến cáo của EASL.

Đã có thuốc mới tốt hơn?

Đến thời điểm hiện nay, thuốc nền tảng để điều trị viêm gan siêu vi C vẫn là pegylated interferon và ribavirin. Thời gian, liều lượng dùng thuốc tuỳ thuộc vào thể bệnh, đáp ứng trong lúc điều trị và sẽ do thầy thuốc cân chỉnh (tailored) theo từng người. Dự kiến vào cuối năm 2011, sẽ có một nhóm thuốc mới được chuẩn y và tung ra thị trường châu Âu và Mỹ. Nhóm thuốc trực tiếp tiêu diệt siêu vi này (direct acting antiviral – DAA), khi phối hợp thêm với phác đồ chuẩn hiện có là pegylated interferon và ribavirin sẽ cải thiện ngoạn mục tỷ lệ lành bệnh (có thể lên đến 90%). Đồng thời, sẽ làm thay đổi triệt để cách tiếp cận, điều trị bệnh này.

Có cần theo dõi sau khi khỏi bệnh?

Những người chưa điều trị, hay tái phát sau khi điều trị, cần được theo dõi mỗi sáu tháng để tầm soát khả năng ung thư gan hay xơ gan. Nếu xơ gan đã xảy ra, dù đã điều trị sạch hẳn siêu vi C, vẫn có khả năng tiến triển sang ung thư gan (với tỷ lệ thấp hơn). Do đó, những người đã xơ gan vẫn phải được theo dõi định kỳ mỗi sáu tháng, mặc dù đã khỏi bệnh viêm gan siêu vi C. Đây cũng là một lý do hợp lý cổ vũ cho việc điều trị sớm, trước khi bệnh diễn tiến đến xơ gan.

Tài liệu tham khảo:

EASL Clinical Practice Guidelines: Management of hepatitis C virus infection. European Association for the Study of the Liver Journal of Hepatology 2011 vol. 50 No2 (24.2.2011) (http://www.easl.eu/_clinical-practice-guideline/issue-5-march-2011-manag...)

BS Lê Đình Phương

CHO THUÊ CĂN HỘ CAO CẤP CAVENAGH LODGE TAI TRUNG TÂM ORCHARD

LỐI VÀO

PHÒNG TẬP THỂ HÌNH

HỒ NƯỚC NÓNG & JACUZZI

HỒ BƠI

PHÒNG KHÁCH

PHÒNG KHÁCH


NHÀ BẾP

NHÀ BẾP

MASTER GUEST ROOM (CODE: CL0101)

MASTER ROOM 1 (CODE: CL0102)

MASTER ROOM 1 (CODE: CL0102)

MASTER ROOM 1 (CODE: CL0102)

MASTER ROOM 2 (CODE: CL0103)

MASTER ROOM 2 (CODE: CL0103)

MASTER ROOM 2 (CODE: CL0103)